Cách dùng động từ 하다 trong tiếng Hàn
Nội dung bài viết
Nếu chỉ được học kỹ một động từ tiếng Hàn, hãy chọn .
Không phải vì nó là từ hay dùng nhất, dù đúng là rất hay dùng, mà vì nó là một cái máy biến danh từ thành động từ. Đếm trên kho 1998 từ tiếng Hàn của Từ Vựng 123: có 769 từ ở dạng nguyên thể (kết thúc bằng ), và 428 trong số đó là danh từ ghép với . Hơn một phần năm toàn bộ kho từ.
Cách nó hoạt động
Lấy một danh từ, dán vào sau, được một động từ:
| Danh từ | Nghĩa | Ghép với | Thành |
|---|---|---|---|
| việc học | học bài | ||
| công việc | làm việc | ||
| tình yêu | yêu | ||
| thể dục | tập thể dục | ||
| điện thoại | gọi điện | ||
| chuyến đi | đi du lịch | ||
| sự chuẩn bị | chuẩn bị | ||
| sự bắt đầu | bắt đầu |
Với người Việt, chỗ này quen đến mức gần như không phải học: phần lớn danh từ ghép được với là từ gốc Hán, và tiếng Việt cũng dùng đúng những chữ ấy, "học", "vận động", "chuẩn bị", "thất bại". Bạn đã biết nghĩa; chỉ cần biết rằng thêm là nó thành hành động.
Chia : một chỗ bất quy tắc, nhưng chỉ một
Đây là chỗ phải nhớ. không theo quy tắc chia thông thường, thay vì thành , nó thành :
| Dạng | Ví dụ với | |
|---|---|---|
| Nguyên thể | ||
| Lịch sự hằng ngày | , tôi học | |
| Trang trọng | ||
| Quá khứ | , đã học | |
| Tương lai / dự định | , sẽ học | |
| Thân mật () | ||
| Đang làm | , đang học | |
| Phủ định | , không học |
Học thuộc cột giữa một lần là xong cho cả 428 từ. Không có động từ nào khác trong tiếng Hàn cho bạn tỉ lệ đổi công lấy kết quả như thế.
Chú ý dòng cuối: với động từ ghép, phủ định chen vào giữa danh từ và , , chứ không phải . Người mới hay đặt sai chỗ này. Cách nói còn lại là , trang trọng hơn một chút; bài về phủ định so sánh kỹ hai cách.
Tách được, và tách ra thì câu tự nhiên hơn
Một điểm hay của động từ ghép với : danh từ và tách rời được, và người Hàn tách rất thường xuyên khi muốn nhấn vào cái bị tác động:
- , học (nói chung)
- , học tiếng Hàn
- , nhấn vào việc học, kiểu "thì tôi đang học đấy chứ"
Người mới không cần dùng cách thứ ba, nhưng nên nhận ra nó khi nghe, vì trong hội thoại thật nó xuất hiện liên tục.
còn tự đứng một mình
Ngoài vai trò ghép, vẫn là động từ "làm" bình thường, và nó nhận rất nhiều loại tân ngữ mà tiếng Việt phải dùng động từ khác:
- , làm bài tập
- , nấu ăn (nghĩa đen: làm việc nấu nướng)
- , nói chuyện
- , hát
Nên khi bí động từ, thường cứu được bạn: ghép nó với danh từ chỉ hoạt động là người nghe hiểu, kể cả khi đó không phải cách nói tự nhiên nhất.
Hai anh em cùng họ: và
Biết rồi thì nên biết luôn hai từ đi kèm nó, vì chúng dùng đúng cùng cách:
- , dạng bị động / tự xảy ra. (chuẩn bị) → (được chuẩn bị xong). (bắt đầu) → (bắt đầu diễn ra).
- , dạng sai khiến. (học) → (bắt học, cho đi học).
Ba hậu tố này gắn vào cùng một kho danh từ. Nghĩa là mỗi danh từ Hán Hàn bạn học được thật ra cho bạn tới ba động từ, không phải một.
Cách luyện nhanh nhất
Đừng học riêng 428 từ ghép. Làm ngược lại: học danh từ, rồi tự ghép vào và tự nói một câu. Ví dụ hôm nay bạn học (chuẩn bị) thì tự nói ngay (bây giờ tôi đang chuẩn bị). Một thao tác, hai từ vào đầu, và bạn vừa tập chia động từ.
Nghe trong câu thật
Cách chia / chỉ thành phản xạ khi bạn nghe nó ở cuối câu vài trăm lần, và vì tiếng Hàn để động từ ở cuối, nó luôn là chữ bạn nghe sau cùng. Phần luyện nói của site có 110 tình huống với 660 câu, phần lớn kết thúc bằng đúng nhóm đuôi này.
Chọn một tình huống, đọc to từng câu và chú ý chữ cuối cùng. Đó là chỗ tiếng Hàn giấu thì, phủ định và mức lịch sự.