Menu Tiếng Trung
ĐIỀU HƯỚNG NHANH - TIẾNG TRUNG

Tuvung123

Học Ngoại Ngữ Trực Tuyến

Thành ngữ, tục ngữ Trung Quốc thông dụng: hơn 60 câu có pinyin, Hán Việt và điển tích
Học tiếng Trung

Thành ngữ, tục ngữ Trung Quốc thông dụng: hơn 60 câu có pinyin, Hán Việt và điển tích

Admin
13 phút đọc183 lượt xem
Nội dung bài viết

Thành ngữ tiếng Trung (成语 chéngyǔ) là cụm cố định, đa số bốn chữ, thường có điển tích; tục ngữ, ngạn ngữ (谚语 yànyǔ) là cả một câu đúc kết kinh nghiệm sống, gần với tục ngữ Việt Nam. Người Việt có lợi thế lớn: rất nhiều thành ngữ đọc theo âm Hán Việt là hiểu ngay, như (đồng cam cộng khổ) hay (vạn sự như ý). Bài này gồm cách phân biệt 5 loại câu cố định, khoảng 60 thành ngữ và tục ngữ thông dụng chia theo chủ đề (kèm pinyin, âm Hán Việt, nghĩa và câu tiếng Việt tương đương), 6 câu chuyện điển tích ngắn, những câu dễ hiểu nhầm, sách tra cứu và cách học.

Thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ, yết hậu ngữ khác nhau thế nào

Trong tiếng Trung, các câu nói cố định được gọi chung là 熟语 (shúyǔ). Khi tìm "ca dao tục ngữ tiếng Trung" hay "ngạn ngữ Trung Quốc", bạn thực ra đang tìm một trong các nhóm dưới đây:

LoạiPinyinHình dạngVí dụ
成语 (thành ngữ)chéngyǔCụm cố định, phần lớn 4 chữ, nhiều câu lấy từ sách cổ, dùng nhiều trong văn viết vẽ rắn thêm chân
谚语 (ngạn ngữ, tục ngữ)yànyǔMột câu hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm sống, lao động, thời tiết tuyết lành báo năm được mùa
俗语 (tục ngữ, câu nói dân gian)súyǔCâu khẩu ngữ lưu truyền trong dân gian; nghĩa rộng bao gồm cả ngạn ngữ, quán dụng ngữ, yết hậu ngữ vừa nhắc Tào Tháo, Tào Tháo tới
惯用语 (quán dụng ngữ)guànyòngyǔCụm ngắn, thường 3 chữ, nghĩa bóng nịnh bợ, đuổi việc
歇后语 (yết hậu ngữ)xiēhòuyǔHai vế: vế đầu là hình ảnh như câu đố, vế sau là lời giải; khi nói thường chỉ cần vế đầu giỏ tre múc nước, công cốc

Cách nhận nhanh: đủ bốn chữ, không tách được thành câu, thì gần như chắc là 成语. Có chủ ngữ, vị ngữ, thường hai vế đối nhau như (sống đến già, học đến già) thì là 谚语 hoặc 俗语. Ngoài ra còn 名言 (míngyán, danh ngôn) là câu có tác giả cụ thể, ví dụ lời Khổng Tử trong Luận Ngữ.

Thành ngữ về học tập và sự kiên trì

Thành ngữPinyinHán ViệtNghĩaCâu tiếng Việt gần nghĩa
shú néng shēng qiǎoThục năng sinh xảoLàm nhiều thành thạo, tự nhiên sinh khéoQuen tay hay việc
wēn gù zhī xīnÔn cố tri tânÔn cái cũ để hiểu thêm cái mớiÔn cũ biết mới
xué wú zhǐ jìngHọc vô chỉ cảnhViệc học không có điểm dừngBiển học vô bờ
bàn tú ér fèiBán đồ nhi phếLàm nửa chừng thì bỏBỏ dở giữa chừng
chí zhī yǐ héngTrì chi dĩ hằngGiữ vững, làm bền bỉ lâu dàiKiên trì bền bỉ
yú gōng yí shānNgu Công di sơnÔng Ngu Công dời núi: quyết tâm, kiên nhẫn làm việc lớnKiến tha lâu cũng đầy tổ
wò xīn cháng dǎnNgọa tân thường đảmNằm trên củi, nếm mật đắng để nhớ nhục, chờ ngày rửa hậnNằm gai nếm mật
xiōng yǒu chéng zhúHung hữu thành trúcTrong lòng đã có sẵn cây trúc (người vẽ trúc đã hình dung xong): đã tính kỹ, rất tự tinTính trước đâu ra đấy
huà lóng diǎn jīngHọa long điểm tinhVẽ rồng rồi chấm mắt: thêm một chi tiết then chốt làm cả tác phẩm sống độngVẽ rồng điểm mắt

Thành ngữ về tính cách, cách đối nhân xử thế

Thành ngữPinyinHán ViệtNghĩaCâu tiếng Việt gần nghĩa
kǒu shì xīn fēiKhẩu thị tâm phiMiệng nói phải mà lòng nghĩ tráiNói một đằng, nghĩ một nẻo
hú jiǎ hǔ wēiHồ giả hổ uyCáo mượn uy hổ để doạ ngườiCáo mượn oai hùm
jǐng dǐ zhī wāTỉnh để chi oaẾch dưới đáy giếng, hiểu biết hẹpẾch ngồi đáy giếng
bān mén nòng fǔBan môn lộng phủMúa rìu trước cửa nhà Lỗ Ban (ông tổ nghề mộc)Múa rìu qua mắt thợ
hǔ tóu shé wěiHổ đầu xà vĩĐầu hổ đuôi rắn: khởi đầu rầm rộ, kết thúc qua loaĐầu voi đuôi chuột
bàn jīn bā liǎngBán cân bát lạngNửa cân và tám lạng (theo cân cũ 16 lạng) bằng nhau: hai bên ngang nhau, thường ý chêKẻ tám lạng, người nửa cân
tóng gān gòng kǔĐồng cam cộng khổCùng hưởng ngọt, cùng chịu đắngCó phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia
xuě zhōng sòng tànTuyết trung tống thánĐưa than sưởi giữa trời tuyết: giúp đúng lúc người ta khốn khóMột miếng khi đói bằng một gói khi no
jǐn shàng tiān huāCẩm thượng thiêm hoaThêu hoa lên gấm: đã tốt lại càng tốt hơnDệt hoa trên gấm
qīng chū yú lánThanh xuất ư lamMàu xanh chàm lấy từ cây chàm mà xanh hơn cây chàm: trò giỏi hơn thầyCon hơn cha là nhà có phúc

Thành ngữ về tình yêu, gia đình và lời chúc

Nhóm này xuất hiện nhiều nhất trong thiệp, lời chúc và mạng xã hội. Nếu bạn cần trọn bộ câu chúc Tết, xem thêm lời chúc mừng năm mới tiếng Trung.

Thành ngữPinyinHán ViệtNghĩaCâu tiếng Việt gần nghĩa
yī jiàn zhōng qíngNhất kiến chung tìnhGặp một lần đã đem lòng yêuYêu từ cái nhìn đầu tiên
bǎi nián hǎo héBách niên hảo hợpHoà hợp trăm năm (chúc đám cưới)Trăm năm hạnh phúc
bái tóu xié lǎoBạch đầu giai lãoCùng nhau sống đến đầu bạcĐầu bạc răng long
wàn shì rú yìVạn sự như ýMọi việc đều như ýVạn sự như ý
xīn xiǎng shì chéngTâm tưởng sự thànhNghĩ gì được nấyCầu được ước thấy
mǎ dào chéng gōngMã đáo thành côngNgựa đến là thắng: làm gì cũng thành ngayMã đáo thành công
yī lù píng ānNhất lộ bình anCả chặng đường bình anThượng lộ bình an

Thành ngữ về cuộc sống và may rủi

Thành ngữPinyinHán ViệtNghĩaCâu tiếng Việt gần nghĩa
sài wēng shī mǎTái ông thất mãÔng lão biên ải mất ngựa: hoạ phúc khó lườngTrong cái rủi có cái may
yī jǔ liǎng déNhất cử lưỡng đắcLàm một việc được hai lợiMột công đôi việc
yī shí èr niǎoNhất thạch nhị điểuMột hòn đá trúng hai con chimMột mũi tên trúng hai đích
rù xiāng suí súNhập hương tuỳ tụcĐến vùng nào theo phong tục vùng đóNhập gia tuỳ tục
rén shān rén hǎiNhân sơn nhân hảiNgười đông như núi như biểnĐông như kiến, biển người
qī shàng bā xiàThất thượng bát hạLòng dạ lên xuống không yênThấp thỏm, như ngồi trên đống lửa
jiǔ niú yī máoCửu ngưu nhất maoMột sợi lông trên chín con trâu: phần rất nhỏ trong cái rất lớnHạt cát giữa sa mạc
pò fǔ chén zhōuPhá phủ trầm chuĐập nồi, đánh chìm thuyền: tự cắt đường lui để quyết làm tới cùngQuyết một phen sống mái
wàng méi zhǐ kěVọng mai chỉ khátNghĩ tới quả mơ chua mà đỡ khát: tự an ủi bằng hy vọng hãoKhông có câu sát nghĩa

Tục ngữ, ngạn ngữ Trung Quốc thông dụng

Tục ngữ dài hơn thành ngữ nên pinyin viết theo từ. Nhiều câu có bản tiếng Việt gần như dịch từng chữ, vì hai dân tộc chia sẻ kho kinh nghiệm dân gian khá giống nhau.

Tục ngữPinyinNghĩa và câu tiếng Việt tương đương
zhǐyào gōngfu shēn, tiě chǔ mó chéng zhēnChỉ cần chịu bỏ công, chày sắt cũng mài thành kim. Tương đương: có công mài sắt, có ngày nên kim
yǒu zhì zhě shì jìng chéngNgười có chí rốt cuộc sẽ làm nên việc. Tương đương: có chí thì nên
yī cùn guāngyīn yī cùn jīnMột tấc thời gian là một tấc vàng. Tương đương: thời gian là vàng bạc
huó dào lǎo, xué dào lǎoSống đến già, học đến già. Tương đương: học, học nữa, học mãi
sān rén xíng, bì yǒu wǒ shīBa người cùng đi, ắt có người là thầy ta (ý từ Luận Ngữ): ai cũng có điều đáng để học
shībài shì chénggōng zhī mǔThất bại là mẹ thành công
chī yī qiàn, zhǎng yī zhìVấp một cái hố, khôn thêm một phần. Tương đương: ngã một lần, bớt dại một lần
bǎi wén bù rú yī jiànTrăm nghe không bằng một thấy
zhī jǐ zhī bǐ, bǎi zhàn bù dàiBiết mình biết người, trăm trận không nguy (Binh pháp Tôn Tử). Người Việt quen nói: biết người biết ta, trăm trận trăm thắng
jìn zhū zhě chì, jìn mò zhě hēiGần son thì đỏ, gần mực thì đen. Tương đương: gần mực thì đen, gần đèn thì rạng
yuǎnqīn bù rú jìnlínHọ hàng xa không bằng hàng xóm gần. Tương đương: bán anh em xa, mua láng giềng gần
lù yáo zhī mǎ lì, rì jiǔ jiàn rén xīnĐường xa mới biết sức ngựa, ở lâu mới thấy lòng người. Tương đương: ở lâu mới biết lòng người
bìng cóng kǒu rù, huò cóng kǒu chūBệnh từ miệng vào, hoạ từ miệng ra
móu shì zài rén, chéng shì zài tiānMưu sự tại nhân, thành sự tại thiên
bù rù hǔ xué, yān dé hǔ zǐKhông vào hang hổ sao bắt được hổ con. Muốn thành việc lớn phải dám mạo hiểm
sān ge chòu píjiang, dǐng ge Zhūgě LiàngBa anh thợ da tầm thường gộp lại bằng một Gia Cát Lượng. Tương đương: một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao
zǎo qǐ de niǎo'ér yǒu chóng chīChim dậy sớm có sâu ăn: ai chăm chỉ, đi trước sẽ được lợi
ruì xuě zhào fēng niánTuyết lành báo hiệu năm được mùa (ngạn ngữ nhà nông miền Bắc Trung Quốc)
shuō Cáo Cāo, Cáo Cāo dàoVừa nhắc Tào Tháo, Tào Tháo tới. Người Việt dùng y hệt

Yết hậu ngữ và quán dụng ngữ hay gặp trong khẩu ngữ

Yết hậu ngữ là kiểu chơi chữ rất "Trung Quốc", gặp nhiều trong phim và tiểu thuyết. Khi nói, người ta hay chỉ nói vế đầu, người nghe tự hiểu vế sau, nên muốn hiểu được thì phải thuộc cả hai vế.

CâuPinyinNghĩa
zhúlán dǎ shuǐ — yī chǎng kōngGiỏ tre múc nước, rốt cuộc trống không: công cốc, công dã tràng
ní púsà guò jiāng — zìshēn nán bǎoTượng Bồ Tát bằng đất qua sông, tự mình còn khó giữ: thân mình lo chưa xong
yǎba chī huánglián — yǒu kǔ shuō bù chūNgười câm ăn hoàng liên (vị thuốc rất đắng), đắng mà không nói ra được: ngậm bồ hòn làm ngọt
xiǎocōng bàn dòufu — yī qīng èr báiHành non trộn đậu phụ, xanh ra xanh trắng ra trắng: rõ ràng, trong sạch
Zhū Bājiè zhào jìngzi — lǐ wài bù shì rénTrư Bát Giới soi gương, trong ngoài đều không ra người: làm bên nào cũng bị trách
pāi mǎpìVỗ mông ngựa: nịnh bợ
chǎo yóuyúXào mực (miếng mực cuộn lại như cuộn chăn chiếu ra về): bị đuổi việc
zǒu hòuménĐi cửa sau: nhờ quen biết, chạy chọt

6 câu chuyện thành ngữ ngắn

Thành ngữ có điển tích dễ nhớ nhất khi biết câu chuyện phía sau. Dưới đây là bản tóm tắt ngắn, kể lại theo ý của sách gốc.

守株待兔: ôm cây đợi thỏ

Sách Hàn Phi Tử kể: một nông dân nước Tống đang cày ruộng thì thấy một con thỏ chạy vội, đâm vào gốc cây mà chết. Anh ta nhặt được thỏ không mất công, bèn bỏ cày, ngày ngày ngồi cạnh gốc cây chờ con thỏ khác. Thỏ không đến nữa, ruộng thì bỏ hoang, anh ta thành trò cười cho cả nước. (shǒu zhū dài tù) chỉ người trông chờ may mắn, không chịu nỗ lực, hoặc cứng nhắc dựa vào kinh nghiệm một lần.

画蛇添足: vẽ rắn thêm chân

Theo Chiến Quốc Sách, một người nước Sở làm lễ tế xong, đem một bình rượu thưởng cho những người giúp việc. Rượu không đủ cho nhiều người, họ thi vẽ rắn trên đất, ai xong trước được uống. Một người vẽ xong sớm, tay trái cầm bình, tay phải vẽ thêm chân cho con rắn để khoe mình còn dư thời gian. Người thứ hai vẽ xong, giật lấy bình: "Rắn làm gì có chân?" rồi uống mất. (huà shé tiān zú) chỉ việc làm thừa, làm hỏng cả việc đã xong.

对牛弹琴: đàn gảy tai trâu

Chuyện kể nhạc sĩ Công Minh Nghi đem đàn ra chơi một khúc nhạc tao nhã cho con trâu nghe. Trâu vẫn cúi đầu gặm cỏ. Ông đổi sang những tiếng giống muỗi vo ve, bê con kêu mẹ, trâu mới vẫy đuôi, vểnh tai. (duì niú tán qín) chỉ nói chuyện sâu xa với người không hiểu, cũng dùng để trách người nói không chọn người nghe.

塞翁失马: Tái ông mất ngựa

Sách Hoài Nam Tử kể: một ông lão sống gần biên ải bị mất ngựa, hàng xóm đến an ủi, ông nói biết đâu là phúc. Vài tháng sau con ngựa quay về, dẫn theo một con ngựa Hồ tốt. Con trai ông thích cưỡi ngựa mới, ngã gãy chân. Năm sau giặc tràn tới, trai tráng phải ra trận, phần lớn tử trận, riêng con ông vì chân tật mà sống sót. Câu đầy đủ là (sài wēng shī mǎ, yān zhī fēi fú): ông lão mất ngựa, sao biết không phải là phúc.

自相矛盾: tự mâu thuẫn

Cũng trong Hàn Phi Tử, một người nước Sở bán mâu (giáo) và thuẫn (khiên). Anh ta khoe khiên của mình chắc đến mức không gì đâm thủng, rồi lại khoe giáo sắc đến mức không gì không đâm thủng. Có người hỏi: "Lấy giáo của anh đâm khiên của anh thì sao?", anh ta không đáp được. Từ (máodùn, mâu thuẫn) mà tiếng Việt dùng hằng ngày chính là từ câu chuyện này.

亡羊补牢: mất dê mới sửa chuồng

Chiến Quốc Sách chép lời Trang Tân khuyên vua Sở: thấy thỏ rồi mới gọi chó chưa phải muộn, mất dê rồi mới sửa chuồng chưa phải trễ. Vì vậy người Trung Quốc thường nói (wáng yáng bǔ láo, wéi shí wèi wǎn) với ý khích lệ: sửa sai kịp thời vẫn còn kịp. Đây là điểm khác với câu "mất bò mới lo làm chuồng" của tiếng Việt, vốn mang ý chê người lo muộn.

Những câu dễ hiểu nhầm với người Việt

Âm Hán Việt giúp đoán nghĩa rất nhanh, nhưng cũng là cái bẫy khi nghĩa hoặc sắc thái bị lệch. (Cách dùng âm Hán Việt để đoán nghĩa nói chung có trong bài dùng từ Hán Việt để đoán nghĩa chữ Hán.)

  • : như trên, tiếng Trung thiên về khích lệ sửa sai, tiếng Việt thiên về chê trách.
  • : nguyên văn là "trăm trận không nguy", không phải "trăm trận trăm thắng".
  • : người Việt nói "kẻ tám lạng người nửa cân" với nghĩa trung tính; tiếng Trung hiện nay thường dùng ý chê, kiểu "hai bên dở như nhau".
  • (mǎ mǎ hū hū): không liên quan đến ngựa hay hổ, nghĩa là qua loa, cẩu thả, hoặc "tàm tạm" khi trả lời về tình hình của mình.
  • (bù kě sī yì, bất khả tư nghị): nghĩa gốc nhà Phật là "không thể nghĩ bàn", nay dùng như "khó tin, không thể tưởng tượng nổi", cả nghĩa tốt lẫn xấu.

Sách và từ điển thành ngữ tiếng Trung nên dùng

Khi gặp một thành ngữ lạ, cần một nguồn có giải nghĩa, xuất xứ và câu ví dụ. Hai nguồn đáng tin, đã kiểm tháng 9/2026:

  • 《新华成语词典》 (Tân Hoa thành ngữ từ điển), bản thứ 2: Trung tâm nghiên cứu từ điển của NXB Thương Vụ (商务印书馆) biên soạn, xuất bản năm 2015, hơn 10.000 mục thành ngữ, chữ giản thể, có pinyin, giải nghĩa và ví dụ. Hợp với người đã học khoảng HSK 4 trở lên vì phần giải nghĩa hoàn toàn bằng tiếng Trung.
  • 教育部《成語典》 của Bộ Giáo dục Đài Loan (dict.idioms.moe.edu.tw): tra miễn phí trên web, do Viện Nghiên cứu Giáo dục Quốc gia Đài Loan quản lý, có xuất xứ, điển cố và cách dùng. Chữ hiển thị là phồn thể, nên nếu bạn học giản thể hãy đọc thêm bài chữ giản thể và phồn thể khác nhau thế nào.

Các file "thành ngữ tiếng Trung PDF" chia sẻ tràn lan phần lớn là bản chụp sách có bản quyền hoặc danh sách tự gõ không ai kiểm, sai pinyin khá thường gặp. Muốn tra nhanh trên điện thoại, dùng từ điển có mục thành ngữ như hướng dẫn trong bài từ điển tiếng Trung nên dùng, rồi tự chép những câu mình gặp vào sổ riêng.

Cách học tiếng Trung qua thành ngữ

  1. Học đúng lúc. Người mới (dưới HSK 3) nên ưu tiên từ vựng và mẫu câu cơ bản; chỉ nên học những câu dùng hằng ngày như lời chúc hoặc . Thành ngữ bốn chữ có giá trị nhất khi bạn bắt đầu đọc báo, xem phim, viết đoạn văn.
  2. Đọc âm Hán Việt trước, pinyin sau. Với , đọc "đồng cam cộng khổ" là nhớ nghĩa ngay; việc còn lại chỉ là gắn pinyin tóng gān gòng kǔ và luyện đọc đúng thanh.
  3. Nhóm câu có chuyện kể. Đọc chuyện một lần thì nhớ lâu hơn chép mười lần. Kể lại câu chuyện bằng tiếng Trung đơn giản cũng là bài luyện nói tốt.
  4. Học kèm một câu ví dụ. Thành ngữ trong câu thường đóng vai vị ngữ, định ngữ hoặc trạng ngữ, ví dụ (Tā zuò shì zǒngshì bàn tú ér fèi. Anh ấy làm việc gì cũng bỏ dở giữa chừng.) Chỉ thuộc bốn chữ mà không biết đặt vào câu thì khó dùng được.
  5. Để ý sắc thái khen chê. là khen, là chê, dù cả hai đều nói về "thêm vào". Dùng sai sắc thái nghe rất lạ tai với người bản ngữ.
  6. Ôn theo cặp trái nghĩa hoặc cùng chủ đề. Ví dụ đi với , đi với .

Bài viết liên quan

Tập viết tiếng Trung: chọn cách luyện, công cụ và lộ trình theo cấp HSK

Tập viết tiếng Trung: chọn cách luyện, công cụ và lộ trình theo cấp HSK

Chọn giữa viết trên giấy, viết trên màn hình có máy chấm nét và chỉ tập nhận mặt chữ, kèm bảng so sánh công cụ, số chữ phải viết của từng cấp HSK và lộ trình tập viết theo tuần.

18 tháng 9, 202610 phút đọc
Học tiếng Trung ở đâu: bốn đường học, giá mỗi buổi và cách chọn theo mục tiêu

Học tiếng Trung ở đâu: bốn đường học, giá mỗi buổi và cách chọn theo mục tiêu

Bốn đường học tiếng Trung đặt cạnh nhau theo tiền, thời gian và thứ mỗi đường làm được, cùng ba câu hỏi để tự chọn đường hợp với mục tiêu của mình.

18 tháng 9, 202611 phút đọc
Chúc mừng năm mới tiếng Trung: hơn 60 lời chúc Tết có phiên âm, chia theo người nhận

Chúc mừng năm mới tiếng Trung: hơn 60 lời chúc Tết có phiên âm, chia theo người nhận

Câu chúc mừng năm mới tiếng Trung phổ biến nhất là 新年快乐 (Xīnnián kuàilè); bài gom hơn 60 lời chúc Tết có pinyin và nghĩa, chia theo người nhận, kèm mẫu thiếp, câu đối và những điều cần kiêng.

17 tháng 9, 202612 phút đọc
Học tiếng Trung phồn thể (tiếng Đài Loan): giáo trình, app, từ vựng và câu chào hỏi

Học tiếng Trung phồn thể (tiếng Đài Loan): giáo trình, app, từ vựng và câu chào hỏi

Người học tiếng Hoa để đi Đài Loan nên dùng bộ 當代中文課程 (A Course in Contemporary Chinese) làm giáo trình chính, bảng từ 華語八千詞表 miễn phí của TOCFL làm danh sách từ, và các app có chế độ chữ phồn thể. Bài kèm câu giao tiếp kiểu Đài Loan và cách chuyển từ giản thể sang.

17 tháng 9, 20265 phút đọc
Học bổng thạc sĩ Trung Quốc: điều kiện, mức 3.000 tệ/tháng, hồ sơ và lịch nộp

Học bổng thạc sĩ Trung Quốc: điều kiện, mức 3.000 tệ/tháng, hồ sơ và lịch nộp

Hệ thạc sĩ ở Trung Quốc kéo dài 2–3 năm, cần bằng cử nhân, HSK 4–6 hoặc IELTS 6.0–6.5 và thường cần thư tiếp nhận. Bài so sánh các loại học bổng (CSC Hiệp định, CSC diện trường, học bổng giáo viên tiếng Trung), chi phí tự túc, hồ sơ và lịch nộp chu kỳ 2026.

17 tháng 9, 202612 phút đọc