
Học tiếng Nhật và tiếng Trung cùng lúc có nên không, học tiếng nào trước
Nội dung bài viết
Học tiếng Nhật và tiếng Trung cùng lúc là làm được, nhưng người mới hoàn toàn nên lệch pha: học một tiếng tới mức cơ bản (khoảng JLPT N4 hoặc HSK 3) rồi mới thêm tiếng thứ hai. Nếu bắt buộc học song song ngay từ đầu, hãy tách hẳn giờ học, sổ tay và bộ thẻ từ của hai tiếng, và dành ít nhất 1 giờ mỗi ngày. Lợi thế lớn nhất là chữ Hán dùng chung; nguy cơ lớn nhất là lẫn âm đọc và lẫn nét chữ.
Chỉ một ví dụ cho thấy cả hai mặt: chữ 学生 (học sinh) trong tiếng Nhật đọc (gakusei), trong tiếng Trung đọc (xuésheng). Nghĩa giống nhau, mặt chữ giống nhau, nhưng cách đọc thì không liên quan gì. Học sinh Việt có thêm âm Hán Việt “học sinh” làm cầu nối.
Học song song tiếng Nhật và tiếng Trung: lợi và hại
| Phần | Được lợi | Dễ rối |
|---|---|---|
| Chữ Hán | Nhận mặt chữ một lần, dùng cho cả hai tiếng; đoán nghĩa nhanh | Hình chữ khác nhau: giản thể bên Trung, chữ Nhật có dạng riêng |
| Âm đọc | Âm Hán Việt giúp nhớ cả âm On của Nhật lẫn pinyin | Ba cách đọc cho một chữ, dễ đọc pinyin vào câu tiếng Nhật và ngược lại |
| Từ vựng | Rất nhiều từ ghép chung nghĩa | Có những từ cùng mặt chữ nhưng khác nghĩa hẳn |
| Ngữ pháp | Hầu như không lẫn: tiếng Trung không chia động từ, tiếng Nhật có trợ từ và đuôi chia | Trật tự câu ngược nhau (Trung chủ, động, tân; Nhật động từ ở cuối) |
| Phát âm | Ít âm trùng nên hiếm khi lẫn | Tiếng Trung có 4 thanh, tiếng Nhật có trọng âm cao độ, phải luyện riêng |
Như vậy chỗ dễ rối nằm gần hết ở mảng chữ Hán và từ vựng. Ngữ pháp và phát âm của hai tiếng khác nhau đủ xa để não bạn tự tách được.
Ba kiểu lẫn hay gặp nhất
1. Lẫn hình chữ
Tiếng Trung đại lục dùng chữ giản thể, tiếng Nhật dùng bộ chữ riêng (shinjitai) giản lược ít hơn và theo cách khác. Khi viết tay, người học song song rất hay viết chữ lai giữa hai bên.
| Hán Việt | Tiếng Trung (giản thể) | Tiếng Nhật | Phồn thể |
|---|---|---|---|
| đồ (bản đồ) | (tú) | (zu) | 圖 |
| phát | (fā) | (hatsu) | 發 |
| khí | (qì) | (ki) | 氣 |
| quan | (guān) | (kan) | 關 |
| quảng | (guǎng) | (kō) | 廣 |
| ái (yêu) | (ài) | (ai) | 愛 |
Cách chữa: khi gặp một chữ khác dạng, ghi cả hai dạng cạnh nhau ngay trong sổ, kèm phồn thể nếu có. Nhìn ba dạng một lúc giúp bạn thấy quy luật giản lược. Bài giản thể và phồn thể giải thích chi tiết hơn.
2. Lẫn âm đọc
Đây là kiểu lẫn khiến người học song song mệt nhất ở vài tháng đầu. Cùng một từ, bạn phải giữ ba âm trong đầu:
| Chữ | Hán Việt | Tiếng Nhật | Tiếng Trung |
|---|---|---|---|
| 電話 / 电话 | điện thoại | (denwa) | (diànhuà) |
| 図書館 / 图书馆 | đồ thư quán | (toshokan) | (túshūguǎn) |
| 中国 | Trung Quốc | (chūgoku) | (Zhōngguó) |
| 日本 | Nhật Bản | (nihon) | (Rìběn) |
| 大学 | đại học | (daigaku) | (dàxué) |
Tiếng Nhật còn khó hơn ở chỗ một chữ có thể có nhiều âm (âm On theo kiểu Hán, âm Kun thuần Nhật). Người Việt có lợi thế riêng: âm On của Nhật và âm Hán Việt cùng gốc Hán cổ, nên nhiều cặp nghe khá gần, như 大学 daigaku với “đại học”. Hãy dùng âm Hán Việt làm điểm neo khi ghi từ mới. Bài đoán nghĩa chữ Hán qua từ Hán Việt có thêm quy luật để tận dụng.
3. Lẫn nghĩa: từ cùng mặt chữ, khác nghĩa
| Chữ | Nghĩa trong tiếng Nhật | Nghĩa trong tiếng Trung |
|---|---|---|
| 手紙 / 手纸 | (tegami): lá thư | (shǒuzhǐ): giấy vệ sinh |
| 勉強 / 勉强 | (benkyō): học, ôn bài | (miǎnqiǎng): miễn cưỡng, gượng ép |
| 汽車 / 汽车 | (kisha): tàu hoả chạy hơi nước | (qìchē): ô tô |
| 娘 | (musume): con gái | (niáng): mẹ (khẩu ngữ, phương ngữ) |
| 走 | (hashiru): chạy | (zǒu): đi, đi bộ |
Những cặp như thế không nhiều, nhưng gặp một lần là nhớ mãi. Nên có một trang riêng trong sổ ghi các từ “bẫy” này.
Nên học tiếng Nhật hay tiếng Trung trước
| Tình huống | Nên bắt đầu bằng |
|---|---|
| Có mục tiêu việc làm, du học, xuất khẩu lao động rõ ở một nước | Tiếng của nước đó, tiếng kia để sau |
| Muốn nói được nhanh trong vài tháng | Tiếng Trung: không chia động từ, câu cơ bản ráp nhanh |
| Muốn đọc được chữ trước, sợ thanh điệu | Tiếng Nhật: có bảng kana, không có thanh |
| Đã giỏi một tiếng | Thêm tiếng còn lại, chữ Hán đã quen sẽ rút ngắn thời gian rất nhiều |
Nếu cả hai đều chỉ là sở thích, nhiều người thấy học tiếng Trung trước dễ hơn. Phát âm và thanh điệu được luyện sớm khi tai còn mới. Sau khi biết vài trăm chữ, sang tiếng Nhật bạn chủ yếu phải học âm đọc và ngữ pháp. Đi theo chiều ngược lại cũng được; bài biết tiếng Trung học tiếng Nhật có dễ hơn không phân tích phần nào được rút ngắn, phần nào phải học lại từ đầu. Còn muốn so độ khó tổng thể của hai tiếng với người Việt, xem bài tiếng Nhật và tiếng Trung cái nào khó hơn.
Cách chia lịch khi học tiếng Trung và tiếng Nhật cùng lúc
Nguyên tắc chung: một tiếng chính, một tiếng phụ. Chia đều 50/50 thì cả hai cùng tiến chậm và dễ bỏ.
Lịch mẫu 1 giờ mỗi ngày (tiếng chính 70%, tiếng phụ 30%)
| Ngày | Tiếng chính (khoảng 40 phút) | Tiếng phụ (khoảng 20 phút) |
|---|---|---|
| Thứ 2, 4, 6 | Bài mới trong giáo trình, ngữ pháp | Ôn thẻ từ, nghe một đoạn ngắn |
| Thứ 3, 5 | Luyện nghe, luyện nói | Học 5 đến 10 chữ Hán mới, ghi cả hai dạng |
| Thứ 7 | Ôn tập cả tuần | Xem một tập phim, nghe podcast |
| Chủ nhật | Nghỉ hoặc ôn nhẹ | Nghỉ |
Mẹo tách hai tiếng trong đầu
- Tách theo thời điểm: tiếng Nhật buổi sáng, tiếng Trung buổi tối, không xen giữa buổi. Não quen “giờ nào nói tiếng nào”.
- Tách công cụ: hai sổ khác màu, hai bộ thẻ Anki riêng, thậm chí hai trình duyệt hoặc hai tài khoản app.
- Thẻ chữ chung ghi đủ ba âm: khi gặp chữ đã biết ở tiếng kia, thêm một dòng vào thẻ: Hán Việt, âm Nhật, pinyin.
- Không học hai bài cùng chủ đề trong một ngày: hôm nay học từ vựng gia đình tiếng Nhật thì đừng học gia đình tiếng Trung, vì từ gần nghĩa đè lên nhau dễ lẫn nhất.
- Đặt mốc thi riêng: ví dụ N4 tháng 12, HSK 2 tháng 6 năm sau. Có mốc thì có tiếng chính rõ ràng ở từng giai đoạn.
Ai nên và không nên học song song
- Nên: người đã có nền một tiếng, sinh viên ngành ngôn ngữ cần cả hai, người có từ 1,5 giờ mỗi ngày và thích chữ Hán.
- Cân nhắc kỹ: người mới học ngoại ngữ lần đầu, người chỉ có 20 đến 30 phút mỗi ngày, người cần đạt chứng chỉ gấp trong vài tháng.
Với nhóm thứ hai, học tuần tự gần như luôn nhanh hơn. Bạn có thể dành 6 đến 9 tháng cho tiếng thứ nhất, rồi mới mở tiếng thứ hai khi đã có thói quen học đều. Muốn hiểu thêm vai trò của chữ Hán trong tiếng Nhật trước khi quyết định, đọc bài kanji là gì.
Câu hỏi thường gặp
Học tiếng Nhật xong học tiếng Trung có dễ không?
Dễ hơn ở phần chữ và từ vựng, vì bạn đã biết nghĩa của hàng trăm chữ Hán. Nhưng phát âm, thanh điệu và chữ giản thể vẫn phải học từ đầu. Đa số người đi theo đường này thấy phần nghe nói tiếng Trung là chỗ khó nhất.
Học hai tiếng cùng lúc có làm chậm cả hai không?
Nếu tổng thời gian không đổi thì có, mỗi tiếng chỉ được một phần thời gian. Nếu bạn tăng tổng giờ học và giữ một tiếng làm chính, tiếng chính gần như không bị chậm.
Có cần học phồn thể khi học cả hai tiếng không?
Không bắt buộc. Nhưng biết phồn thể giúp bạn hiểu vì sao chữ Nhật và chữ giản thể khác nhau, vì cả hai đều giản lược từ cùng một dạng gốc.
Gõ chữ Hán trên máy cho hai tiếng có lẫn không?
Cần cài hai bộ gõ riêng: bộ gõ tiếng Nhật gõ theo âm Nhật (romaji ra kana rồi đổi sang kanji), bộ gõ tiếng Trung gõ theo pinyin. Bộ gõ nào ra đúng dạng chữ của tiếng đó, nên đây cũng là một cách luyện phân biệt.